• International Edition
  • Giá trực tuyến: Bật
  • RSS
  • Hỗ trợ
VN-INDEX 1.252,72 -4,69/-0,37%
Biểu đồ thời gian thực
Cập nhật lúc 3:05:03 CH

Stockbiz MetaKit là phần mềm cập nhật dữ liệu phân tích kỹ thuật cho MetaStock và AmiBroker (Bao gồm dữ liệu EOD quá khứ, dữ liệu EOD trong phiên và dữ liệu Intraday trên 3 sàn giao dịch HOSE, HNX, UPCOM)

Stockbiz Trading Terminal là bộ sản phẩm tích hợp đầy đủ các tính năng thiết yếu cho nhà đầu tư từ các công cụ theo dõi giá cổ phiếu realtime tới các phương tiện xây dựng, kiểm thử chiến lược đầu tư, và các tính năng giao dịch.

Kiến thức căn bản

Tổng hợp các kiến thức căn bản về thị trường tài chính, chứng khoán giúp cho bạn có thể tiếp cận đầu tư thuận lợi hơn.

Phương pháp & Chiến lược

Giới thiệu các phương pháp luận sử dụng để phân tính, và các kỹ năng cần thiết phục vụ cho việc đầu tư.

VN-INDEX    1.252,72   -4,69/-0,37%  |   HNX-INDEX   224,63   -0,06/-0,03%  |   UPCOM-INDEX   91,82   -0,24/-0,26%  |   VN30   1.325,54   -4,08/-0,31%  |   HNX30   482,71   +1,32/+0,27%
25 Tháng Mười 2024 9:35:01 CH - Mở cửa
SBT: Lợi nhuận quý III tăng 106% so với cùng kỳ
Nguồn tin: Người đồng hành | 02/05/2019 1:03:03 CH
Quý III niên độ (NĐ) 18-19 ghi nhận những nỗ lực đáng kể của SBT khi kết quả kinh doanh được thể hiện trong báo cáo tài chính vượt trội so với 6 tháng đầu NĐ cũng như cùng kỳ năm ngoái. Đó là sự kết hợp giữa tăng trưởng tốt sản lượng đường tiêu thụ, kiểm soát hợp lý chi phí nguyên liệu đầu vào cũng như các hoạt động tài chính hiệu quả.
 
Lợi nhuận trước thuế (LNTT) và lợi nhuận sau thuế (LNST) quý III lần lượt đạt 287 tỷ đồng và 284 tỷ đồng, tăng 80% và 106% cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng, hoạt động kinh doanh của SBT khởi sắc trở lại với LNTT và LNST đạt lần lượt 350 tỷ đồng và 286 tỷ đồng, do SBT đã tận dụng hiệu quả và tối ưu hóa dây chuyền sản xuất, tích cực mở rộng mạng lưới các kênh bán hàng, cũng như tập trung mạnh vào hoạt động R&D với hơn 26 sản phẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của các đối tượng khách hàng. So với 6 tháng đầu NĐ, lợi nhuận này tăng mạnh với gấp 6 lần và 143 lần.
 
Doanh thu thuần (DTT) lũy kế 9 tháng đạt 8.165 tỷ đồng, hoàn thành 71% kế hoạch năm và tương đương cùng kỳ năm ngoái nhờ vào việc tiêu thụ gần 540.000 tấn đường, tăng 19% và đạt 64% kế hoạch năm. 4 kênh tiêu thụ chủ chốt góp phần quan trọng trong cơ cấu doanh thu cũng như phù hợp định hướng phát triển dài hạn của SBT vẫn được duy trì tốt là doanh nghiệp B2B, thương mại, tiêu dùng B2C và xuất khẩu. Riêng trong quý III, tổng sản lượng ghi nhận 163.000 tấn, tăng 26% cùng kỳ.
 
Doanh nghiệp B2B: Sản lượng tăng hơn 29%, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu sản lượng và doanh thu đường khi lần lượt chiếm tới 45% và 47%. Kênh B2B bao gồm 2 nhóm đối tượng khách hàng là công nghiệp lớn MNC và vừa và nhỏ SME. Hiện nay, bên cạnh MNC, công ty cũng đang tập trung mạnh vào phân khúc SME. Tính đến cuối quý III, sản lượng Đường tiêu thụ lũy kế thông qua kênh SME đạt khoảng 68.000 tấn, tăng 40%.
 
Tại Việt Nam, hơn 90% doanh nghiệp đang là vừa và nhỏ, nhưng lại đóng góp tới 45% GDP nên đây thực sự là một phân khúc cần được đặc biệt chú trọng. Với danh sách hơn 10.000 khách hàng tiềm năng thuộc phân khúc SME kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm, riêng SBT đã đạt thị phần 10% và dự kiến tăng lên 16% cho NĐ 20-21. Đối với phân khúc MNC, SBT đang chiếm thị phần rất cao với 61% và dự kiến tiếp tục tăng lên 76% NĐ 20-21.
 
Thương mại: Sản lượng tăng hơn 36%, chiếm 35% sản lượng đường và đóng góp 33% doanh thu đường.
 
Tiêu dùng B2C: Sản lượng tăng hơn 10%, chiếm 10% Sản lượng và 12% doanh thu đường. SBT hiện đã và đang tiếp tục đẩy mạnh phát triển hàng loạt các sản phẩm mới phục vụ cho thị trường tiêu dùng bình dân nhưng chất lượng vẫn đảm bảo dựa trên thế mạnh kênh phân phối sẵn có. Đặc biệt là việc cho ra đời các sản phẩm với quy cách đóng gói 5 kg/túi và 12kg/túi bên cạnh các quy cách đóng gói trước đây 50 kg, 25 kg, 1 kg và 500 gr để đáp ứng nhu cầu đa dạng khách hàng.
 
SBT hiện đang sở hữu 91 nhà phân phối, 3.600 cửa hàng tiện lợi, siêu thị, chuỗi cửa hàng và hơn 60.000 cửa hàng bán lẻ. Đáng chú ý, SBT đang chạy thử hệ thống bán lẻ thông qua kênh thương mại điện tử. Kỳ vọng khi kênh này đi vào hoạt động ổn định sẽ hỗ trợ SBT tăng trưởng LN tốt hơn, đưa sản phẩm đường thương hiệu TTC Biên Hòa đến tay người tiêu dùng nhanh và dễ dàng hơn. Thị phần đang ghi nhận của kênh hiện đại MT đang đạt mức rất hấp dẫn là 50% và dự kiến sẽ tăng lên 73% cho NĐ 20-21. Riêng kênh truyền thống GT chỉ đạt mức khiêm tốn 10% nhưng kỳ vọng sẽ tăng trưởng bứt phá lên 54% trong vòng 2 năm tới.
 
Xuất khẩu: Tăng trưởng sản lượng gần 4%, chiếm 10% sản lượng và 8% doanh thu đường. Trong quý này, công ty đã tăng thêm 3 thị trường mới, nâng tổng thị trường xuất khẩu đường lên 17 quốc gia bao gồm Trung Quốc, Myanmar, Kenya, Mỹ, Bulgaria, Czech, Pháp, Ý, Hàn Quốc, Singapore, Philippines, Indonesia, Campuchia, Sri Lanka, Samoa, Nauru và Tahiti.
 
 
Cùng với đó là việc ghi nhận doanh thu tăng trưởng của các sản phẩm cạnh đường - sau đường bao gồm mật rỉ, điện và phân bón. Cụ thể, đường đóng góp 83% DTT lũy kế và vẫn là mặt hàng chủ đạo. Chủ động phát huy tối đa lợi thế chuỗi giá trị cây mía, SBT ghi nhận doanh thu mật rỉ 3%, tăng 121%; doanh thu điện 2%, tăng 79%; Phân bón 1%, tăng 22% và doanh thu khác 11%, không thay đổi đáng kể.
 
 
Biên lợi nhuận gộp mảng đường quý III cũng là điểm đáng chú ý khi đã có những cải thiện vượt bậc đạt 13%, tăng mạnh 160% so với bình quân 5% của lũy kế 6 tháng và đúng như dự kiến trước đó đã được công bố của SBT. Kết quả này có được là do toàn bộ sản lượng đường tồn kho với giá vốn cao đã tiêu thụ hết ở 2 quý trước, cũng như sản lượng đường mới đã được công ty kiểm soát tốt chi phí đầu vào. Giá vốn hàng bán theo đó giảm 7%, đưa biên lợi nhuận gộp tăng trưởng và bứt phá trở lại đạt 12% cho quý III. Ngoài ra, doanh thu hoạt động tài chính quý này cũng ghi nhận tăng 107% so với cùng kỳ, đạt 348 tỷ đồng, trong đó chủ yếu đến từ lãi thanh lý các khoản đầu tư hiệu quả và lãi tiền gửi ngân hàng.
 
Lũy kế 9 tháng ghi nhận tỷ trọng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp/Doanh thu thuần không thay đổi mặc dù công ty đang tích cực thực hiện chiến lược mở rộng thị phần, đẩy mạnh phát triển hệ thống phân phối B2C thông qua các kênh và chuỗi phân phối bán lẻ. Bên cạnh đó, với định hướng tinh gọn bộ máy và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản trị doanh nghiệp, chi phí quản lý doanh nghiệp đã được kiểm soát tốt khi giảm 8% so cùng kỳ, đây là tiền đề để SBT có thể cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp trong khu vực sau khi gia nhập ATIGA.
 
Cơ cấu vốn cải thiện rõ rệt, tiếp tục giai đoạn tái cấu trúc nguồn vốn
 
Tại thời điểm 31/3/2019, Tổng tài sản (TTS) giảm nhẹ 3% so với thời điểm đầu NĐ, đạt 17.247 tỷ đồng, một phần do công ty đã tiếp tục thực hiện kiểm soát tốt hàng tồn kho khi chỉ tiêu này giảm 19% và đang duy trì ở mức 3.215 tỷ đồng, chỉ chiếm khoảng 19% TTS. Vốn chủ sở hữu của SBT ghi nhận tăng gần 2% đạt 6.201 tỷ đồng chủ yếu do công ty tăng vốn điều lệ hơn 5% sau khi hoàn thành phát hành cổ phiếu chi trả cổ tức cho cổ đông.
 
Nợ phải trả giảm 5%, trong đó nợ ngắn hạn giảm gần 4% và đặc biệt nợ vay ngắn hạn giảm 11% tương đương 834 tỷ đồng. Nợ dài hạn cũng cải thiện khi giảm 9% trong đó nợ vay dài hạn giảm 244 tỷ đồng, tương đương hơn 9%.
 
Với sự cải thiện đáng kể của hàng tồn kho, đầu tư tài chính ngắn hạn và hiệu quả của hoạt động tái cấu trúc nợ, các chỉ số về khả năng thanh toán và cơ cấu vốn của SBT đều ghi nhận sự cải thiện tích cực. Kết thúc quý II, hệ số thanh toán hiện hành và nhanh đạt lần lượt 1,17 lần và 0,80 lần, tương đương trung bình ngành; tăng 7% và 21% so với đầu kỳ, đảm bảo tính ổn định của dòng tiền hoạt động ngắn hạn. Hệ số nợ vay/TTS và nợ vay/ vốn chủ sở hữu cuối tháng 3/2019 đạt 0,53 lần và 1,48 lần, giảm 9% và 12% lần lượt so với đầu NĐ. Tỷ lệ nợ được cải thiện, nằm trong giới hạn kiểm soát rủi ro tài chính và đảm bảo hiệu quả hoạt động của công ty để đồng hành cùng chiến lược gia tăng sản lượng và mở rộng thị phần.
 
Thu Hằng
Tuyên bố trách nhiệmBài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.