• International Edition
  • Giá trực tuyến: Bật
  • RSS
  • Hỗ trợ
VN-INDEX 1.921,60 -3,86/-0,20%
Biểu đồ thời gian thực
Cập nhật lúc 3:10:02 CH

Stockbiz MetaKit là phần mềm cập nhật dữ liệu phân tích kỹ thuật cho MetaStock và AmiBroker (Bao gồm dữ liệu EOD quá khứ, dữ liệu EOD trong phiên và dữ liệu Intraday trên 3 sàn giao dịch HOSE, HNX, UPCOM)

Stockbiz Trading Terminal là bộ sản phẩm tích hợp đầy đủ các tính năng thiết yếu cho nhà đầu tư từ các công cụ theo dõi giá cổ phiếu realtime tới các phương tiện xây dựng, kiểm thử chiến lược đầu tư, và các tính năng giao dịch.

Kiến thức căn bản

Tổng hợp các kiến thức căn bản về thị trường tài chính, chứng khoán giúp cho bạn có thể tiếp cận đầu tư thuận lợi hơn.

Phương pháp & Chiến lược

Giới thiệu các phương pháp luận sử dụng để phân tính, và các kỹ năng cần thiết phục vụ cho việc đầu tư.

VN-INDEX    1.921,60   -3,86/-0,20%  |   HNX-INDEX   257,42   +2,35/+0,92%  |   UPCOM-INDEX   126,40   +0,05/+0,04%  |   VN30   2.050,58   -18,04/-0,87%  |   HNX30   531,60   +1,22/+0,23%
17 Tháng Năm 2026 2:11:53 SA - Mở cửa
Các tổng công ty thuộc EVN kinh doanh ra sao?
Nguồn tin: Người đồng hành | 11/11/2019 8:25:48 SA
Ngành điện Việt Nam hiện nay vẫn chịu kiểm soát bởi Nhà nước thông qua Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Trong đó, EVN độc quyền về truyền tải điện còn việc đầu tư cho nguồn điện đang được huy động từ bên ngoài.
 
EVN chính thức thành lập năm 2006 và hiện là một trong những tập đoàn kinh tế Nhà nước hàng đầu Việt Nam phụ trách việc sản xuất, phân phối và truyền tải điện năng. Hệ thống chính của EVN gồm 3 tổng công ty phát điện (Genco 1, 2, 3) và 8 công ty thủy điện/nhiệt điện trong mảng sản xuất điện năng; 5 tổng công ty điện lực phân phối điện năng đến khách hàng và 1 tổng công ty phụ trách lĩnh vực truyền tải điện.
 
3 tổng công ty sản xuất điện năng
 
Ngành sản xuất điện năng ngày nay đã có sự tham gia của nhiều tập đoàn tổ chức lớn, dù vậy nhóm EVN vẫn chiếm đến phần lớn với tỷ trọng 58% tổng công suất toàn hệ thống. Hiện EVN sở hữu 3 tổng công ty phát điện lớn là Genco 1, 2, 3 cùng nhiều nhà máy lớn khác như Thủy điện Hòa Bình, Sơn La… trong mảng sản xuất điện năng.

 
Nhóm EVN chiếm 58% công suất toàn hệ thống năm 2018 với 28.169 MW.
 
Tổng công ty phát điện 1 (Genco 1) được thành lập năm 2012 thuộc sở hữu 100% của EVN. Đây là đơn vị có công suất lớn nhì cả nước chỉ sau chính công ty mẹ EVN khi chiếm khoảng 14% công suất toàn hệ thống. Nửa đầu năm 2019, Genco1 có doanh thu hơn 20.500 tỷ và lãi 760 tỷ đồng.

 
Theo báo cáo sản xuất 9 tháng năm nay, sản lượng điện thực hiện của Genco 1 đạt gần 29 tỷ kWh, thực hiện 78% kế hoạch năm. Genco 1 được biết đến là đơn vị có thế mạnh về điện than với tổng công suất 4.920 MW (tỷ trọng 71%) với các nhà máy tiêu biểu là Duyên Hải 1&3, Quảng Ninh 1&2, Nghi Sơn 1…
 
Genco 1 cho biết tình hình thủy văn chưa có những cải thiện đáng kể khi mực nước về các hồ thủy điện vẫn ở mức thấp. Các nhà máy than cơ bản đã được cung ứng đủ khối lượng cho nhu cầu vận hành cao nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu than tồn kho dự phòng, đặc biệt là nhà máy Duyên Hải 1. Công ty đang tìm giải pháp nâng công suất bốc dở tại cảng biển và đấu thầu mua than Anthracite để bù đắp.
 
Tổng công ty phát điện 2 (Genco 2) cũng là một đơn vị chuyên về điện than (tỷ trọng 50%) đến từ các nhà máy lớn như Nhiệt điện Phả Lại (HoSE: PPC), Nhiệt điện Hải Phòng (UPCoM: HND). Doanh thu hàng năm của Genco 2 vào khoảng 1 tỷ USD.

 
Cũng gặp khó khăn về tình hình thủy văn kém khả quan khiến sản lượng điện 9 tháng đầu năm của Genco 2 giảm gần 6% xuống 12,3 tỷ kWh. Cơ cấu nhà máy khá giống Genco 1 nên Genco 2 cũng đang chịu áp lực về tình hình thủy văn cũng như nguồn than tồn dự phòng ở mức thấp.
 
Tổng công ty phát điện 3 (Genco 3, UPCoM: PGV) là tổng công ty duy nhất thuộc EVN đã cổ phần hóa. So với tổng công ty trên, Genco 3 sở hữu cơ cấu các nhà máy điện đa dạng hơn. Hiện điện khí chiếm khoảng 46% công suất với đầu tàu là cụm nhiệt điện Phú Mỹ, nhóm điện than có tỷ trọng 38% đến từ Vĩnh Tân 2 và Mông Dương 1.
 
Trong 9 tháng, Genco 3 đã phát điện được 25,8 tỷ kWh, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Từ đó, doanh thu thuần đạt 32.822 tỷ đồng, tăng 12% và lợi nhuận sau thuế thu về 489 tỷ đồng, tăng 70% so với cùng kỳ năm 2018. 

 
Cấu trúc nợ vay ảnh hưởng nhiều đến biên lợi nhuận của các Genco. Số liệu năm 2018.
 
5 tổng công ty trong mảng phân phối điện
 
Ngoài các đơn vị sản xuất điện, EVN còn sở hữu 5 tổng công ty ở lĩnh vực phân phối điện năng đến khách hàng, bao gồm Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVN NPC),Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVN CPC), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC), Tổng công ty Điện lực TP Hà Nội (EVN HANOI) và Tổng công ty Điện lực TP HCM (EVN HCMC). 
 
Tổng công ty Điện lực miền Bắc được thành lập năm 2010 với nhiệm vụ kinh doanh và phân phối điện năng trên địa bàn 27 tỉnh thành miền Bắc. Tính đến cuối 2018, NPC quản lý đường dây cao áp 110kV dài 8.524 km và 219.857 km đường dây trung cấp và hạ áp.
 
Theo báo cáo 6 tháng năm 2019, NPC ghi nhận doanh thu thuần tăng 14% lên 56.949 tỷ đồng. Tuy nhiên chi phí lãi vay, bán hàng và quản lý doanh nghiệp đều trên nghìn tỷ đồng khiến công ty báo lỗ 1.141 tỷ đồng (cùng kỳ lỗ 112 tỷ đồng).
 
Tổng công ty Điện lực miền Trung tiền thân là công ty Điện lực 3 với địa bàn hoạt động chính trên 13 tỉnh thành phố miền Trung – Tây Nguyên. Đến năm 2018, công ty quản lý đường dây 110kV dài 3.566 km và 67.584 km đường dây trung, hạ áp. Sản lượng điện thương phẩm năm ngoái đạt gần 17,6 tỷ kWh, tăng 9% để cung cấp cho 4,1 triệu khách hàng.
 
Trong 6 tháng đầu năm, CPC ghi nhận doanh thu thuần tăng 20% lên 18.302 tỷ. Tuy nhiên, chi phí lãi vay và hoạt đông lớn khiến doanh nghiệp thua lỗ 100 tỷ đồng (cùng kỳ lỗ 260 tỷ đồng). CPC thường có kết quả tốt vào cuối năm khi doanh nghiệp vẫn luôn có lãi mỗi năm 500-600 tỷ đồng giai đoạn 2016-2018.
 
Tổng công ty Điện lực miền Nam được thành lập năm 2010 trên cơ sở tổ chức lại Công ty Điện lực 2. SPC quản lý lưới điện và kinh doanh bán điện trên địa bàn 21 tỉnh thành phố tại phía Nam. Công ty quản lý đường dây 110kV dài 5.995 km và các đường dây trung, hạ áp dài 144.387 km. Sản lượng điện thương phẩm năm ngoái đạt 66,7 tỷ kWh cung cấp cho gần 8 triệu khách hàng.
 
Năm 2018, SPC ghi nhận doanh thu thuần 112.760 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 823 tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2019, SPC có doanh thu thuần tăng 15% lên 62.580 tỷ đồng nhưng lại thua lỗ 602 tỷ đồng (cùng kỳ vẫn lãi 131 tỷ đồng).

 
3 tổng công ty NPC, CPC, SPC đều thua lỗ trong nửa đầu năm 2019.
 
Tổng công ty Điện lực TP Hà Nội cũng chính thức được thành lập năm 2010 theo đề án thành lập các tổng công ty quản lý và phân phối điện thuộc EVN. Tính đến 2018, công ty quản lý 812 km đường dây 110kV và 40.010 km đường dây trung, hạ áp. Báo cáo sản lượng điện thương phẩm của công ty 9 tháng năm 2019 là hơn 15 tỷ kWh, tăng 10% so với cùng kỳ.
 
Tổng công ty Điện lực TP HCM là 1 trong 5 tổng công ty phân phối điện với địa bàn hoạt động tại TP HCM. Công ty quản lý đường dây 220kV dài 101km, đường dây 110kV dài 731km và 19.393km đường dây trung, hạ áp.
 
Năm 2018, EVN HCMC ghi nhận doanh thu tăng 12% lên 48.603 tỷ đồng và có lãi gần 478 tỷ đồng, tăng 4%. Tổng tài sản của doanh nghiệp gần 26.000 tỷ và vốn điều lệ 10.850 tỷ đồng.
 
Độc quyền truyền tải điện qua NPT
 
Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVN NPT) là đơn vị Nhà nước duy nhất có nhiệm vụ phát triển và vận hành hệ thống truyền tải điện trên toàn quốc. Tính đến tháng 2/2019, công ty quản lý 24.950 km đường dây và vận hành 153 trạm biến áp.
 
Năm 2018, NPT truyền tải sản lượng điện 184,5 tỷ kWh và từ đó ghi nhận doanh thu điện 20.483 tỷ đồng, tăng 13%. Lợi nhuận sau thuế thu về 739 tỷ đồng, tăng 163% so với năm trước.  
 
Đây là đơn vị có quy mô vốn lớn nhất của EVN với mức vốn điều lệ hiện là 24.225 tỷ đồng và có tổng tài sản 82.765 tỷ đồng. NPT cũng mang tính chất chung của nhóm EVN là vay nợ rất lớn với con số 53.603 tỷ đồng, chiếm 65% tổng nguồn vốn.
 
Lan Điền
Tuyên bố trách nhiệmBài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.